Huy động nguồn lực phát triển KHCN: Quan trọng nhất là cơ chế

0
190
chiến lược, phát triển, khoa học công nghệ

Ngày 12/8, tại Nhà Quốc hội, Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội có buổi làm việc với đại diện Chính phủ và các bộ, ngành về “Hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển khoa học, công nghệ nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 2005-2015, định hướng phát triển giai đoạn tới, trong đó chú trọng đẩy mạnh công nghiệp hỗ trợ và cơ khí chế tạo”.

Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh đã trình bày báo cáo nêu rõ về tình hình ban hành chính sách pháp luật giai đoạn 2005-2015 trong lĩnh vực KHCN.

Theo đó, sau hơn 3 năm triển khai Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020, nhiều mục tiêu của Chiến lược đến năm 2015 cơ bản đã đạt được hoặc có khả năng đạt được vào năm 2020 như: Giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đóng góp vào Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) giai đoạn 2011-2013 với tỷ trọng lần lượt là 11,7%; 19,1% và 28,7%, tạo đà cho việc hoàn thành chỉ tiêu 45% vào năm 2020. Tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị giai đoạn 2011-2014 đạt 10,68%/năm, đạt mục tiêu chiến lược đề ra là 10-15%/năm giai đoạn 2011-2015.

Giai đoạn 2005-2015, nhiều cơ chế, chính sách mới về KH&CN đã được ban hành, trong đó có các văn bản tạo ra đột phá, đổi mới sâu sắc và toàn diện. Việc ban hành các cơ chế này tạo môi trường để KHCN phát triển, góp phần tích cực vào phát triển chung của kinh tế, xã hội đất nước.

KHCN cũng góp phần rõ nét trong việc nghiên cứu, ứng dụng các kết quả trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, y tế vào thực tiễn cuộc sống.

Mặc dù vậy, nhiều đại biểu đánh giá tiềm lực, trình độ, đội ngũ cán bộ KHCN của Việt Nam chưa đáp ứng yêu cầu. Chúng ta thiếu các tập thể khoa học mạnh, các trường đại học, viện nghiên cứu đẳng cấp quốc tế, và cả các nhà khoa học đầu ngành có khả năng chỉ huy triển khai các nhiệm vụ quốc gia ở trình độ quốc tế.

Từ đó dẫn đến thực tế trình độ KHCN nước ta còn khoảng cách tụt hậu khá xa so với thế giới, kể cả với một số nước nhóm đầu trong khu vực Đông Nam Á.

Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại thời gian qua là do nhận thức và tư duy của Nhà nước, DN, nhà khoa học chưa sâu sắc, đầy đủ về vai trò của KHCN. Hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách về KHCN chưa đầy đủ, hoàn thiện và chưa đi vào cuộc sống. Nguồn lực tài chính hạn hẹp, kể cả nguồn lực nhà nước và nguồn lực xã hội. Cơ chế nặng về bao cấp, chưa khuyến khích và tạo động lực về lợi ích để thúc đẩy KHCN, thu hút nhân tài, thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng KHCN.

phó thủ tướng, Vũ Đức ĐamPhó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho rằng, nguồn lực đầu tư cho KHCN là rất quan trọng, trong đó có nguồn lực xã hội. Tuy nhiên, trong điều kiện thực tiễn hiện nay, đầu tư cho KHCN chưa được như mong muốn. Nhiều khó khăn vướng mắc về cơ chế tài chính dù đã được tháo gỡ nhưng vẫn còn rất nhiều điểm vướng, nguồn lực đầu tư còn dàn trải.

Vì vậy, để huy động được nguồn lực từ các DN cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ về thuế, tín dụng, đất đai… cũng như cần tạo môi trường bình đẳng cho mọi DN đầu tư cho KHCN. Đặc biệt cần phải công khai, minh bạch từ quy trình xét duyệt, nghiệm thu đến ứng dụng các kết quả nghiên cứu.

Từ các ý kiến tại buổi làm việc, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển nhấn mạnh vấn đề quan trọng là phải đề xuất được giải pháp để tháo gỡ những vấn đề tồn tại đã được nêu lên trong báo cáo giám sát. Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần có Nghị quyết đề xuất với Quốc hội sửa các vấn đề liên quan đến luật và quá trình tổ chức thực hiện để đưa KHCN cũng như công nghiệp hỗ trợ, cơ khí chế tạo đi vào cuộc sống.

Thời gian tới, Ủy ban KHCN và Môi trường của Quốc hội sẽ phối hợp với Chính phủ, Bộ KH&CN hoàn thiện báo cáo và dự thảo Nghị quyết trình Quốc hội để tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế chính sách để KHCN đóng góp nhiều hơn vào phát triển kinh tế- xã hội.

Theo Cổng thông tin Điện tử Chính phủ

0 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN